Thư gửi cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp

In

 

Thư gửi cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp

Lm. Giuse Phạm Đình Ngọc, SJ

Từ một linh mục miền quê đơn sơ của vùng đất Nam Bộ, cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp đã trở thành biểu tượng sống động của tình yêu mục tử và lòng trung thành với Thiên Chúa. Trước ngày Giáo hội long trọng tuyên phong Chân phước cho ngài, bài viết này như một lá thư đầy tâm tình, tri ân và cảm tạ vị mục tử đã chọn sống giữa đoàn chiên, chết giữa đoàn chiên, và cho đến hôm nay vẫn tiếp tục đồng hành, an ủi và cầu bầu cho biết bao người tìm đến ngài với niềm tin yêu và phó thác.

Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp kính yêu,

Hôm nay, con viết cho cha với lòng kính mến, biết ơn và xúc động cùng với Hội thánh Việt Nam đang hướng đến ngày tuyên phong Chân phước cho cha. Không chỉ riêng con, nhưng rất nhiều người lương cũng như giáo, trên quê hương này, vẫn luôn dành cho cha một tình cảm đặc biệt. Người ta yêu mến cha không chỉ vì cha là một linh mục đã sống cách đây gần một thế kỷ; nơi cha, người ta còn gặp được hình ảnh của một mục tử thật sự, một người đã yêu đoàn chiên đến cùng. Cha yêu đến mức dám ở lại, dám hiến cả mạng sống mình để làm chứng cho Thiên Chúa.

Mỗi lần nhớ đến cha, lòng con dừng thật lâu ở câu nói có lẽ là duy nhất của cha được ghi lại: “Tôi sống giữa đàn chiên và nếu có chết cũng chết giữa đàn chiên, không đi đâu cả.” Câu này không chỉ là lời tuyên bố trong giờ phút hiểm nguy. Đó là xác tín của cả một đời linh mục. Đó là bản tóm lược ơn gọi của cha. Đó là điều làm cho bao thế hệ người tín hữu cúi đầu kính phục. Vì nơi cha, chức linh mục không phải là địa vị, càng không phải là một con đường an toàn cho bản thân, nhưng là dấu ấn thuộc trọn về Chúa và đoàn chiên. Chính vì thế, khi thời cuộc nhiễu nhương, khi sự dữ phủ bóng trên quê hương, cha đã không bỏ chạy. Cha chọn ở lại; cha chọn đứng giữa dân mình; cha chọn sống như mục tử tốt lành mà cha vẫn hằng rao giảng. Con đã viết về điểm này dọc theo cuốn Con Sóc Trên Tàu Dừa khi kể về cuộc đời cha.

Ngày 12 tháng 3 năm 1946, cha đã thực sự bước vào cuộc tử đạo. Cha bị bắt giữa cơn biến động đau thương của lịch sử. Cha đã hiến dâng mạng sống mình vì đoàn chiên. Giáo hội ngày nay nhìn nhận cha là người đã chịu chết vì lòng thù ghét đức tin, và chính vì thế tiến trình tôn phong của cha đã đi đến một cột mốc vô cùng trọng đại. Cha sẽ được Tuyên phong Chân phước vào ngày 02 tháng 7 năm 2026 tại Tắc Sậy, do Đức Hồng y Luis Antonio Tagle, đặc sứ của Đức Thánh Cha, chủ sự.

Cha ơi! Người ta kể rằng trong đêm đau thương ấy, chính cha đã báo mộng cho giáo dân Tắc Sậy để đưa thi thể cha về. Chứng nhân thấy cha chết trong tình trạng trần trụi, như thể mang nơi thân mình hình ảnh đau đớn của Chúa Giêsu chịu đóng đinh năm xưa. Điều làm người ta xúc động hơn cả không phải chỉ là cái chết bi thương ấy, mà là vẻ bình an lạ lùng còn đọng trên thân xác cha: hai tay vẫn chắp trước ngực như đang cầu nguyện, khuôn mặt vẫn thanh thản, tâm hồn cha vẫn hoàn toàn nép mình trong Thiên Chúa. Hình ảnh ấy làm chúng con hiểu rằng cha đã không chết trong hoảng loạn, nhưng trong phó thác. Cha không ngã xuống trong sợ hãi, nhưng trong niềm tín thác của người biết rõ mình đang thuộc về ai.

Thực tế là cha vẫn không rời xa dân Chúa. Cha luôn ở lại, vẫn lắng nghe, chở che và cầu bầu. Có những người đến với cha bằng kinh nguyện. Có những người đến với cha bằng nước mắt. Nhiều người đến với cha chỉ bằng một tiếng gọi đơn sơ giữa lúc cuộc đời quá mỏi mệt. Nhưng lạ thay, rất nhiều người đã ra về với một niềm an ủi trong lòng, không phải vì mọi vấn đề được giải quyết, nhưng vì họ cảm nhận được rằng mình không cô độc. Có một người cha thiêng liêng đang lắng nghe họ trước tòa Thiên Chúa.

Thú vị hơn, tình yêu của cha không chỉ dừng lại nơi người Công giáo. Rất nhiều bà con lương dân cũng tìm đến cha, khấn xin cha, tâm sự với cha, đặt vào tay cha những điều sâu kín nhất của đời mình. Hiếm có hình ảnh nào đẹp hơn thế trong đời sống đức tin của dân tộc mình: một vị linh mục Công giáo, sau khi chết, lại trở nên người cha chung cho biết bao người, không phân biệt lương giáo. Điều đó cho thấy trái tim mục tử của cha. Khi còn sống, cha đã ở giữa dân. Khi đã về với Chúa, cha vẫn không ngừng gần dân. Nơi cha, chúng con thấy lòng thương xót của Thiên Chúa mang một gương mặt rất cụ thể, rất miền Tây, rất gần gũi. Hằng ngày, nhiều tín hữu từ khắp nơi vẫn đến Tắc Sậy để cầu nguyện và phó thác, như một dấu chỉ sống động cho thấy lòng mộ mến dành cho cha vẫn rất sâu rộng.

Cha kính yêu,

Những ngày này, khi Giáo hội Việt Nam đang hướng về ngày cha được tuyên phong Chân phước, lòng chúng con đầy tràn niềm vui. Đây không chỉ là niềm vui của riêng Giáo phận Cần Thơ, cũng không chỉ là niềm vui của những người từng gắn bó với Tắc Sậy. Đây là niềm vui của cả Giáo hội Việt Nam. Bởi lẽ, khi một người con của đất nước này được Giáo hội tôn vinh, thì đó không chỉ là vinh dự cho một cá nhân, mà còn là bằng chứng cho thấy Tin Mừng đã thật sự bén rễ sâu nơi quê hương chúng ta. Máu của chứng nhân không rơi xuống vô ích. Tình yêu mục tử không mất đi trong quên lãng. Đời sống thánh thiện không bao giờ là điều xa xôi. Nó có thể nảy nở ngay trên mảnh đất bùn lầy, giữa những ngày loạn lạc, trong trái tim của một người linh mục đơn sơ, nhưng trung tín đến tận cùng.

Điều đẹp nhất chính là vì trước khi được Giáo hội gọi là Chân phước, cha đã sống như một con người thuộc trọn về các mối phúc của Tin Mừng. Cha nghèo vì cha không giữ mạng sống cho riêng mình. Cha hiền lành vì trong đau khổ, cha không để lại oán hờn. Cha khao khát công chính vì cha chọn trung thành với sứ mạng mục tử đến cùng. Cha có lòng thương xót vì cha luôn ở giữa đoàn chiên bé nhỏ. Cha có tâm hồn trong sạch vì ngay trong cái chết, khuôn mặt cha vẫn sáng lên vẻ an bình của người chỉ tìm kiếm một mình Chúa. Cha đã chịu bách hại vì lẽ công chính, vì đức tin, vì tình yêu mục tử. Có lẽ vì thế mà khi dân Chúa gọi tên cha bằng tình con thảo, lòng họ thấy thật gần. Vì sự thánh thiện nơi cha không làm người ta sợ, nhưng làm người ta được an ủi. Không đẩy người ta ra xa, nhưng kéo người ta đến gần Chúa hơn.

Khi nhớ về cha, chúng con cũng nhớ về những dấu mốc của cuộc đời cha trong lịch sử đức tin Việt Nam. Cha sinh ngày 01 tháng 01 năm 1897 tại An Giang. Sau khi bị bắt và bị giết vào ngày 12 tháng 3 năm 1946, thi hài cha được an táng tại nhà thờ Khúc Tréo. Đến năm 1969 hài cốt cha được cải táng về nhà thờ Tắc Sậy. Trung tâm Truyền giáo Phanxicô Xaviê tại Tắc Sậy được thành lập từ ngày 21 tháng 01 năm 1997. Từ đó trở thành nơi rất nhiều người tìm đến để cầu nguyện và xin ơn qua lời chuyển cầu của cha.

Con viết những dòng này không chỉ biết ơn cha, nhưng còn để xin cha tiếp tục đồng hành. Xin cha cầu bầu cho Giáo hội Việt Nam có thêm nhiều mục tử biết sống giữa đoàn chiên. Xin cha cầu bầu cho các linh mục biết yêu dân, sống gần dân, đau với nỗi đau của dân và trung thành với sứ mạng đến cùng. Ước sao mỗi linh mục chúng con biết “mang lấy mùi của chiên”. Xin cha cầu bầu cho người trẻ Việt Nam biết sống cho lý tưởng cao đẹp. Xin cha giúp những ai đang đau khổ, thất vọng, bệnh tật, bị bỏ rơi, đang ở giữa đêm tối của đời mình, để họ tìm được nơi Thiên Chúa một ánh sáng không bao giờ tắt.

Những ai còn yếu đuối trong đức tin, xin cha giúp họ. Xin cha dạy chúng con biết sống đơn sơ, trung thành và quảng đại hơn. Xin cha cùng với chúng con cầu nguyện giữa thử thách, biết ở lại giữa trách nhiệm, biết yêu thương ngay cả khi phải trả giá. Xin cha dạy chúng con hiểu rằng đời Kitô hữu không xa rời thập giá, nhưng là biết ôm lấy thập giá cùng với Chúa Giêsu. Từ đó sự sống mới được nảy sinh cho người khác.

Trước ngày hồng phúc 02 tháng 7 năm 2026 đang đến gần, chúng con hướng lòng về cha với niềm xúc động và tri ân. Chúng con cảm tạ Thiên Chúa vì đã ban cho quê hương Việt Nam một vị mục tử thánh thiện. Chúng con cảm ơn cha vì cha đã không bỏ đoàn chiên. Chúng con tri ân cha vì cha đã yêu đến cùng. Chúng con cảm ơn cha vì sau bao năm tháng, cha vẫn tiếp tục là nơi rất nhiều con người tìm đến để được nâng đỡ, được an ủi và được khơi lại niềm hy vọng.

Xin cha đón nhận những lời chân thành này. Xin cha nhớ đến chúng con trước nhan Thiên Chúa. Xin cho ngày cha được tuyên phong Chân phước không chỉ là ngày vui của Giáo hội, nhưng còn là lời mời gọi mỗi người chúng con biết sống đẹp hơn, tin yêu hơn và trung tín hơn trên hành trình theo Chúa.

Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương!

Nguồn: https://giaophancantho.org/